học kế toán thực hành kế toán minh việt



KHOÁ HỌC KÈM RIÊNG KẾ TOÁN THEO YÊU CẦU xem ngay

DỊCH VỤ KẾ TOÁN TRỌN GÓI GIÁ CHỈ TỪ  500.000 VNĐ xem ngay

 

Trong ngữ cảnh Việt Nam: Luật Kế toán được ban hành năm 2003 và sừa đổi năm 2015 - Mối quan hệ giữa hệ thống kế toán với chính sách thue và sự ảnh hưởng của nó đến công tác kế toán trong doanh nghiệp 

Mối quan hệ giữa hệ thống kế toán với chính sách thuế và sự ảnh hưởng của nó đến công tác kế toán trong doanh nghiệp 

 

Nhân tô ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hệ thông kê'toán và chính sách thuế :

  • Thị trường chứng khoán: Là nhân tô' đầu tiên ảnh hưởng đến môi quan hệ này và là nhân tô' ảnh hường đên thông tin của kê'toán tài chính. Thị trường chứng khoán phát triển thì khi đó hệ thống kê' toán và chính sách thuế có xu hướng cách biệt nhau. Các chủ thê trên thị trường chứng khoán cẩn thông tin kê' toán và thông tin này phải phản ánh đúng thực trạng của doanh nghiệp, họ không châ'p nhận kê' toán theo luật thuế, vì luật thuê'phản ánh tốc độ và mục tiêu của Nhà nước. Ở những quốc gia mà thị trường chứng khoán chưa phát triển cụ thể như Việt Nam thì kê'toán luôn luôn nhìn xem góc độ thuế quy định thê'nào? Yêu cầu luật thuê'ra sao? Để thực hiện theo. Vì vậy, các quy định về kê' toán và chính sách thuê' có sự tương đồng nhiều hơn.
  • Câu trúc pháp luật: (i) Hệ thông luật chung: Những nước theo hệ thông luật này thì giữa kê'toán và chính sách thuế có xu hướng tách biệt; (ii) Hệ thông luật dân sự (Luật riêng - Luật La Mã). Những nước theo luật này thi giữa kế toán và chính sách thuế có xu hướng tương đổng.

Các quy định về kế toán và thuế rất tổng quát cả trong thực tiễn và khuôn khổ pháp luật thì môì quan hệ giữa kế toán và chính sách thuế có xu hướng xích lại gần nhau hơn và xu hướng đánh giá là đi vào mô hình đồng nhâ't nhưng có lúc lại theo mô hình tách biệt. Vì vậy, Việt Nam đang ở thế chung chiêng không rõ ràng cụ thể là mô hình nào? Chính sách thuế được xem là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán. Công tác kế toán phục vụ chủ yếu cho việc quản lý nhà nước, trong đó có cơ quan thuê'. Công việc ghi nhận và đo lường kê' toán thường dựa trên cơ sở quy định của thuế, dẫn đên không có sự khác biệt giữa lợi nhuận kê'toán và thuê'

Nhận thức đó đã ăn sâu và tác động râ't lớn vào hành vi của người làm kê' toán. Dù các năm gần đây đã thay đổi tác động của thuê' đôỉ với kê' toán rất nhiều nhưng kết quả thực tê' cho thâý kế toán và thuếluôn tương đổng. Từ các nhân tô' ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa kê' toán và thuế, môi quan hệ giữa chính sách thuê'và chuẩn mực, chế độ kế toán luôn là vấn đề được các nhà xây dựng chính sách của các quốc gia đặc biệt quan tâm.

* Mốt quan hệ giữa chính sách thuế và kế toán

Nghiên cứu lịch sử thông lệ kế toán và chính sách thuê'các nước cho thấy tồn tại 2 quan điểm (mô hình) về môi quan hệ này và 2 mô hình này ảnh hưởng rất nhiều đêh tổ chức công tác kê' toán trong doanh nghiệp.

- Mô hình đổng nhất (sự thông nhất giữa chính sách thuế và kế toán)

Theo quan điểm này, các quy định của chính sách thuê' và chuẩn mực, chê độ kế toán liên quan có sự thống nhất với nhau. Thông tin kế toán được sử dụng trực tiếp cho mục đích tính thuế mà không cần thực hiện điều chỉnh. Quan điểm này có sự thông nhất giữa chính sách kế toán và chính sách thuê' nên giảm thiểu được sự phức tạp trong việc sử dụng thông tin kế toán cho mục đích kê khai, quyết toán thuê' đặc biệt đốì với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.

Ngoài ra, sự thống nhất giữa chính sách thuế và kế toán cũng đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung của Nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, việc thông nhất chính sách kế toán và chính sách thuế có thể dẫn đến thông tin kế toán chủ yếu đặt trọng tâm vào mục tiêu tính thuế nên sẽ giảm tính hữu ích đổi vói các chủ thể sử dụng thông tin khác. Hạn chế này càng bộc lộ rõ trong điều kiện thực hiện nền kinh tê'toàn cầu. Vì vậy hiện nay quan điểm này ít được áp dụng khi xây dụng chính sách thuê' và kê toán của các quổc gia.

- Mô hình tách biệt

Theo mô hình này, các quy định của chính sách thuế và chuẩn mực, chê'độ kế toán có sự độc lập tương đối. Thông tin kê toán được cung câ'p cho các đôi tượng sử dụng khác nhau và cần thực hiện điều chinh cho mục đích tính nghĩa vụ thuế. Quan điểm này đảm bảo chính sách kế toán và chính sách thuế được xây dựng theo các mục tiêu khác nhau, phù hợp với đặc thù của từng chính sách.

Với tư cách là một công cụ điều tiết kinh tê; chính sách thuê' hướng đên mục tiêu điều tiết kinh tê' vĩ mô và đàm bảo nguổn thu của NSNN trong từng thòi kỳ, phù hợp với mục tiêu phát triên và các chính sách kinh tế khác. Trong khi đó, hệ thống kê' toán được xây dựng nhằm cung cấp thông tin tài chính thích hợp và tín cậy cho các đôĩ tượng có nhu cầu sử dụng thông tin nhằm giúp chủ thể ra các quyết định kinh tê đúng đắn.

Do đó, thông tin kế toán cần đảm bảo tính trung lập, không nhất thiết thiên về mục đích tính thuê' của đơn vị. Ngược lại, sự khác biệt giữa chính sách thuê'và kế toán làm gia tăng tính phức tạp cho công tác kê'toán tại đơn vị, cũng như phức tạp trong việc sừ dụng thông tin kế toán để kê khai, quyết toán thuế. Vể phương diện quản lý nhà nước, sự khác biệt giữa chính sách kế toán và chính sách thuê' cũng gây ra những khó khăn, phức tạp nhât định đối với công tác quản lý, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế của các đơn vị.

Qua phân tích 2 quan điểm trên, có thể nhận thấy việc lựa chọn vận dụng quan điểm nào đê xây dựng chính sách thuê trong mối quan hệ với hệ thống kế toán đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và cơ chê'quản lý kinh tế của mỗi quôc gia trong từng giai đoạn phát triển. Trong điều kiện hiện nay, các quốc gia có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, quan điểm xây dựng chính sách thuê'có sự độc lập tương đối với chính sách kế toán là phổ biến, vì những lý do sau:

  1. Sự phát triển của nền kinh tê' thị trường với nhiều thành phần kinh tế có lợi ích khác nhau. Nhu cầu đối vói thông tin kê' toán ngày càng đa dạng đòi hỏi hệ thông kê toán phải được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo tính tin cậy và trung lập giữa các đối tượng. Hệ thống kê'toán không thiên về mục đích tính thuế.
  1. Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tê' các nước dẫn đến việc hài hòa các CMKT diễn ra mạnh mẽ theo định hướng của hệ thống CMKT và chuẩn mực BCTC quốc tê'cho dù mức độ phát triển kinh tê' xã hội ở các nước là khác nhau. Ngược lại, chính sách thuế chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế xã hội, chính sách quản lý kinh tế cụ thể ở từng quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Xu hướng hài hòa mang tính toàn cầu về chính sách thuê thường diễn ra chậm hon so với hệ thống kế toán.

Sự phát triển nhanh chóng và ngày càng phức tạp của nền kinh tê'thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính dẫn đến phát sinh nhiều vấn để kế toán phức tạp. Kê'toán hiện đại có xu hướng coi trọng tính thích hợp của thông tin và "mô phỏng" tình hình tài chính và kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp nhiểu hon. Ngược lại, để thực hiện được chức năng của mình chính sách thuê'vẫn thiên về sử dụng thông tin kết quả thực hiện trong quá khứ của doanh nghiệp.

 

Xem thêm : Các đặc điểm của hệ thống kế toán VN hiện hành


Bình luận

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn



Kinh nghiệm làm kế toán

Số lượt xem

Đang online
Tổng xem1