học kế toán thực tế



Điều kiện ủy quyền quyết toán thuế TNCN năm 2019

Điều kiện ủy quyền quyết toán thuế TNCN năm 2019 áp dụng theo thông tư nào?

Tại Điều 21 của thông tư 92/2015/TT-BTC  quy định các trường hợp đủ điều kiện ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân 

Trường hợp được ủy quyền quyết toán thuế TNCN năm 2019
– Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 (mười hai) tháng trong năm.
– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên tại một tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 (mười hai) tháng trong năm, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế 10% mà không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
– Cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trong trường hợp tổ chức cũ thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp. Cuối năm người lao động có ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức mới phải thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có) để làm căn cứ tổng hợp thu nhập, số thuế đã khấu trừ và quyết toán thuế thay cho người lao động.
Cá nhân ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thay theo mẫu số 02/UQ-QTT-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC
Lưu ý: cá nhân làm ủy quyền quyết toán thuế TNCN phải có MST TNCN
 
 
Các trường hợp không được ủy quyền quyết toán
– Cá nhân ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại từ 2 nới trở lên.
– Cá nhân đã được tổ chức, cá nhân trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN thì không ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập (trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thu hồi và hủy chứng từ khấu trừ thuế đã cấp cho cá nhân).
– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không đảm bảo điều kiện được ủy quyền như sau:
Cá nhân chỉ có thu nhập vãng lai đã khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% (kể cả trường hợp có thu nhập vãng lai duy nhất tại một nơi) thì cá nhân không uỷ quyền quyết toán.
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ thuế (bao gồm trường hợp chưa đến mức khấu trừ và đã đến mức khấu trừ nhưng không khấu trừ) thì cá nhân không ủy quyền quyết toán thuế.
Ví dụ: Năm 2016, Ông Nguyễn Sáu Ngọc có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động trên 03 tháng tại Công ty CP Đầu tư HTC Việt Nam, đồng thời có thu nhập từ hợp đồng dịch vụ với 02 công ty khác là Công ty An Bình và Công ty Phú Minh. Tại Công ty An Bình có thu nhập là 10 triệu đồng đã khấu trừ thuế 10%. Tại Công ty Phú Minh có thu nhập là 1,5 triệu đồng chưa đến mức khấu trừ thuế. Như vậy, trong năm 2016 Ông Nguyễn Sáu Ngọc có một khoản thu nhập chưa khấu trừ thuế, nếu Ông Nguyễn Sáu Ngọc thuộc diện quyết toán thuế thì  Ông Nguyễn Sáu Ngọc không ủy quyền quyết toán tại Công ty CP Đầu tư HTC Việt Nam, mà trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế.
 
Trường hợp đã quyết toán thay cho đối tượng không đủ điều kiện ủy quyền:
Cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế TNCN, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: “Công ty … đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.
 
 
Bình luận

Bình luận

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn



Kinh nghiệm làm kế toán

Số lượt xem

Đang online13
Tổng xem1